* NỘI DUNG SÁCH:
Cuốn sách mở ra một thế giới nơi những lời khuyên “ăn lành mạnh” không đơn thuần được đưa ra từ giới khoa học, mà thường xuyên bị bóp méo bởi áp lực từ các tập đoàn thực phẩm giàu ảnh hưởng. Từ Tháp Dinh Dưỡng, nước ngọt trong trường học, cho đến các tuyên bố công dụng trên thực phẩm bổ sung – tất cả đều là chiến trường của những cuộc vận động hành lang, tài trợ ẩn danh, và đánh đổi giữa lợi nhuận và lợi ích cộng đồng.
Không chỉ dừng lại ở phê phán, Nestle còn đề xuất một tầm nhìn mới về môi trường thực phẩm công bằng và lành mạnh hơn – nơi mỗi người tiêu dùng có thể “bỏ phiếu bằng chiếc nĩa” để tạo ra thay đổi. Dành cho những ai quan tâm đến dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, hoặc đơn giản là muốn hiểu rõ hơn vì sao chúng ta ăn như hiện nay, Định chế Ẩm thực và Dinh dưỡng là một tác phẩm không thể bỏ qua trong thời đại mà thực phẩm đã trở thành một định chế chính trị.
* MỘT SỐ TRÍCH ĐOẠN HAY:
⊕ Trước tiên, họ áp dụng chiến lược vận động hành lang. Họ vận động Quốc hội nhằm thông qua những đạo luật có lợi, vận động các cơ quan chính phủ ban hành những quy định có lợi, và vận động cả Nhà Trắng ký kết những hiệp định thương mại có lợi. Nhưng vận động hành lang chỉ là một trong những phương thức dễ thấy nhất. Còn rất nhiều những “thỏa thuận ngầm” ít được biết đến với cộng đồng chuyên gia dinh dưỡng/thực phẩm để có được cái gật đầu “chấp thuận” về chất lượng dinh dưỡng hay lợi ích sức khỏe của sản phẩm, và cả việc thiết lập những mối quan hệ gần gũi với các nhà lập pháp hoặc quan chức công quyền – những người có thể “nhúng tay” dự phần tạo nên những quy định có lợi. (160)
⊕ Đội quân các nhà vận động hành lang với ngân sách lớn đại diện cho mọi thành phần có thể hình dung được của khối doanh nghiệp tư nhân ở Mỹ; không ngành nào là quá nhỏ lẻ, không nhóm nào là quá cô lập, và không ý kiến nào là quá cực đoan mà lại từ bỏ việc chi tiền cho giới vận động chuyên nghiệp để phục vụ lợi ích của bản thân. Với mức chi tiêu lên tới hàng tỷ đô la, vận động hành lang tự thân đã trở thành một ngành công nghiệp khổng lồ. (167)
⊕ Nhóm các nhà tổ chức làn sóng tẩy chay đã kêu gọi công chúng Mỹ không mua sản phẩm của Nestlé cho đến khi tập đoàn này ngừng các hoạt động tiếp thị ủng hộ việc cho trẻ bú bình. Các hội nhóm nhà thờ, trường đại học, công đoàn, hội phụ nữ và chăm sóc sức khỏe nhanh chóng tham gia làn sóng tẩy chay, bên cạnh đó là sự xuất hiện của nhiều người nổi tiếng và chính trị gia… Ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh doanh nghiệp cùng sự sụt giảm doanh số sau đó đủ để buộc Nestlé phải đầu tư mạnh vào một chiến dịch quan hệ công chúng nhằm kiểm soát và khắc phục thiệt hại. (245)
⊕ Gần như mọi sản phẩm thực phẩm và đồ uống đều được đại diện bởi một hiệp hội thương mại hoặc doanh nghiệp quan hệ công chúng có nhiệm vụ quảng bá hình ảnh tích cực của mặt hàng đó trong mắt người tiêu dùng, giới chuyên gia và các phương tiện truyền thông. Những hội nhóm này – cùng đội ngũ vận động hành lang của họ – có thể tận dụng kết quả nghiên cứu về một dưỡng chất cụ thể để tuyên bố rằng các sản phẩm chứa dưỡng chất đó có lợi cho sức khỏe, đồng thời đòi quyền ghi chú thông tin đó lên nhãn bao bì. Người tiêu dùng nào hoang mang về dinh dưỡng sẽ có nhiều khả năng dễ dàng chấp nhận những tuyên bố như vậy. Các công ty thực phẩm muốn mọi người tin rằng không có thực phẩm nào là “tốt” (trừ khi thực phẩm đó là của họ); không có thực phẩm nào là “xấu” (chắc chắn không phải của họ); tất cả các thực phẩm (đặc biệt là của họ) có thể được đưa vào một chế độ ăn tốt cho sức khỏe; và rằng sự cân bằng, đa dạng và điều độ là chìa khóa dẫn tới chế độ ăn uống lành mạnh – có nghĩa rằng mọi khuyến nghị nhằm hạn chế tiêu thụ các sản phẩm mà họ sản xuất đều là sai. (55)
⊕ Hãy để ý khuyến nghị “nên ăn ít đi” luôn đề cập đến các dưỡng chất, chứ không phải đến thực phẩm. Chúng gợi đến chất béo, chất béo bão hòa và cholesterol, nhưng không phải đến các nguồn thực phẩm quan trọng nhất của chất béo – thịt, sữa, trứng, cùng các thực phẩm chiên và chế biến. Chúng đề cập đến muối và đường, chứ không phải bánh mì que hoặc nước ngọt, và chúng ám chỉ đồ uống có cồn chứ không phải bia, rượu vang hoặc rượu mạnh. (136)
⊕ Sức ép ngày càng tăng từ các thông điệp quảng cáo đang len lỏi đến cả những đứa trẻ nhỏ tuổi nhất. Trẻ em ngay từ sớm đã nhận thức được về các thương hiệu được quảng bá, từ đó mỗi em sẽ hình thành sở thích mua sắm riêng. Ngay cả những trẻ rất nhỏ tuổi cũng có thể nhận diện các cửa hàng bán những món đồ mà chúng thích, phân biệt sản phẩm này với sản phẩm khác, và hiểu được thông điệp quảng cáo, mục tiêu của nhà bán lẻ, cũng như ý nghĩa của tiền bạc. Đến khi 7 hoặc 8 tuổi, hầu hết trẻ đều đã trở thành những người mua sắm thông thạo; chúng có thể tự đi mua hàng, hỏi han về những sản phẩm mình muốn, và khoe khoang với bạn bè những món đồ mình đã mua1. (286)
⊕ Trong khi “ăn ít thịt bò” sẽ khiến ngành công nghiệp lên án kịch liệt, “ăn ít chất béo bão hòa” sẽ không khuấy động một phản ứng rầm rộ. Lời khuyên “ăn ít đường” sẽ khiến các nhà sản xuất đường hùng hổ lao ngay đến Quốc hội, nhưng toàn ngành có thể chấp nhận chủ trương “lựa chọn chế độ ăn có hàm lượng đường vừa đủ”. (31)
⊕ Tôi từng là thành viên của một Ủy ban Cố vấn vào năm 1995 – ủy ban đầu tiên được bổ nhiệm theo yêu cầu của Quốc hội – do đó tôi có thể chứng thực rằng một một khi ủy ban được thành lập, họ sẽ muốn thực hiện điều chỉnh. Bộ hướng dẫn về Chế độ ăn uống trên thực tế nên được coi là một báo cáo của ủy ban – là kết quả của sự tác động qua lại giữa quá trình “cho và nhận”, thỏa hiệp lẫn nhau, đối đầu căng thẳng, và (sau cuối là) sự đồng thuận giữa một nhóm những người tham gia với các góc nhìn và mục tiêu khác nhau. Khó xảy ra việc các thành viên thay đổi quan điểm của mình do kết quả từ những cuộc họp, phiên điều trần, bình luận công khai hoặc đánh giá nghiên cứu, đơn giản vì thời gian là hữu hạn còn số lượng các tài liệu cần phải tra cứu thì quá nhiều. (127)
⊕ Có hai điểm đáng nhận được sự chú ý đặc biệt: (1) Việc chuyển tiền mập mờ từ giới vận động sang giới quan chức liên bang thông qua các khoản đóng góp “cứng” (“hard” money) được chính phủ cho phép hoặc phê duyệt, các khoản đóng góp “mềm” (“soft” money) và quà tặng hợp pháp nhưng không được chính phủ phê duyệt, và (2) cơ chế trao đổi vị trí công việc thường xuyên giữa giới vận động hành lang và các quan chức liên bang, hay còn được gọi là cơ chế “cửa xoay” (revolving door). Cả hai điểm trên đều làm dấy lên nhiều câu hỏi về việc tạo dựng ảnh hưởng không chính đáng. (170)
⊕ Ngành thực phẩm phải ganh đua quyết liệt cho mỗi đồng đô la chi tiêu cho đồ ăn thức uống [của người tiêu dùng], còn các công ty thực phẩm phải tiêu tốn nguồn lực khó tin để nghiên cứu và tiếp thị các sản phẩm có thể bán được, bất kể chúng tác động ra sao đến dinh dưỡng hay vòng eo khách hàng. Để làm hài lòng cổ đông, các công ty thực phẩm phải thuyết phục mọi người ăn nhiều hơn các sản phẩm của họ, hoặc sử dụng sản phẩm của họ thay vì của đối thủ cạnh tranh. Họ làm điều này hiển nhiên thông qua quảng cáo và quan hệ công chúng, nhưng cũng bằng những nỗ lực không mệt mỏi hòng thuyết phục các quan chức chính phủ, chuyên gia dinh dưỡng và giới truyền thông rằng sản phẩm của họ tốt cho sức khỏe – hoặc ít nhất là không gây hại. (27)
⊕ Hầu hết chúng ta đều tin rằng chúng ta lựa chọn thực phẩm dựa trên khẩu vị cá nhân, sự tiện lợi và chi phí; chúng ta phủ nhận mình có thể bị thao túng bởi quảng cáo hoặc các hoạt động tiếp thị. (28)
⊕ Bằng cách liên kết mảng tiếp thị của ngành công nghiệp thực phẩm với tỷ lệ béo phì ngày càng tăng, tôi chỉ đơn thuần nêu lên điều hiển nhiên: Các công ty thực phẩm góp phần gây ra tình trạng béo phì bởi lẽ, như bất kỳ doanh nghiệp nào khác, công việc của họ là bán sản phẩm và tăng lợi nhuận cho nhà đầu tư… Họ có thể biện minh rằng việc bạn ăn gì là quyền của bạn, nhưng trách nhiệm của họ là khiến bạn mua nhiều thực phẩm hơn, chứ không phải mua ít đi. (13)
⊕ Nhiều sản phẩm thực phẩm hạ thấp việc nấu nướng để biến nó thành một công việc vặt có mức độ ưu tiên thấp, thay vào đó khuyến khích hướng tới các bữa ăn một món, ít món phụ, ít nguyên liệu, khẩu phần lớn hơn dẫn đến nhiều đồ ăn thừa hơn, gần như không có món ăn nào được nấu “từ đầu”, cùng các bữa ăn giao tận nhà được đặt hàng qua điện thoại, fax hoặc Internet. Công cuộc diễn giải ý nghĩa xã hội của những phát kiến trên chắc chắn sẽ tốn nhiều thời gian của giới xã hội học và nhân học trong nhiều thập kỷ. Trong lúc đó, sự tiện lợi giúp tăng giá trị cho thực phẩm và kích thích ngành công nghiệp thực phẩm tạo ra thêm nhiều sản phẩm hơn nữa có thể được tiêu thụ nhanh chóng với ít sự chuẩn bị nhất. (54)
⊕ Một số phương pháp cụ thể “sẽ hiệu quả nhất khi nhận diện được những chuyên gia hàng đầu… sau đó thuê họ làm cố vấn hoặc nhà tư vấn, hay cấp cho họ các khoản tài trợ nghiên cứu hoặc những hình thức tương tự. Để làm được điều này đòi hỏi đôi chút khôn khéo; không được quá lộ liễu vì bản thân các chuyên gia cũng không được nhận ra rằng họ đã mất đi tính khách quan và ý chí tự do. Chí ít thì một kế hoạch hành động áp dụng chiến lược này sẽ làm giảm nguy cơ các chuyên gia hàng đầu sẽ đứng ra làm chứng hoặc viết bài lên án lợi ích của giới doanh nghiệp thực phẩm.” (189)
* ĐỌC THÊM:
Food Politics – How the Food Industry Influences Nutrion & Health (Amazon)
* LỜI KHEN DÀNH CHO CUỐN SÁCH:
“Khám phá cách ngành công nghiệp thực phẩm thao túng thói quen ăn uống của người dân Mỹ, cũng như phơi bày nhiều xung đột lợi ích trong giới chuyên gia dinh dưỡng… Một cuốn sách với nhiều lời cảnh báo.” (New York Times)
“Tác giả cho thấy cách mà ngành công nghiệp thực phẩm tiến hành các hoạt động vận động hành lang, quan hệ công chúng, điều phối chính trị và quảng cáo hòng đi ngược lại các mục tiêu sức khỏe cộng đồng và góp phần tạo nên một xã hội đang tự hủy hoại thông qua thói quen ăn uống của người dân.” (Los Angeles Times)
“Đây là một cuốn sách xứng đáng làm thay đổi nhận thức của toàn bộ quốc gia và cả quốc tế, tương tự như cuốn Silent Spring của Carson.” (American Journal of Clinical Nutrition)
